CHÀO MỪNG QUÝ VỊ VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI WEBSITE CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TỈNH THÁI BÌNH
Nghiên cứu, Mô hình, điển hình
Đề cương tuyên truyền Lễ khánh thành Tượng đài “Bác Hồ với nông dân Việt Nam”, kỷ niệm 130 năm thành lập tỉnh và Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Thái Bình lần thứ VII

Ngày cập nhật: 03/08/2020

    Thực hiện sự chỉ đạo của Thường trực Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Tiểu ban tuyên truyền Lễ khánh thành Tượng đài “Bác Hồ với nông dân Việt Nam”, đón nhận Huân chương Độc lập hạng Nhất, kỷ niệm 130 năm thành lập tỉnh và Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Thái Bình lần thứ VII, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn Đề cương Tuyên truyền như sau:

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

Lễ khánh thành Tượng đài “Bác Hồ với nông dân Việt Nam”,

kỷ niệm 130 năm thành lập tỉnh và Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Thái Bình lần thứ VII

-----

I- HỒ CHÍ MINH VỚI NÔNG DÂN VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA XÂY DỰNG TƯỢNG ĐÀI “BÁC HỒ VỚI NÔNG DÂN VIỆT NAM” TẠI THÁI BÌNH

1- Tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông dân Việt Nam

Sinh ra trong một gia đình nhà nho nguồn gốc nông dân, từ nhỏ Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tham gia lao động sản xuất cùng cha, đã từng chịu đựng gian khổ mất mát và thấu hiểu cái cảnh khổ cực của đồng bào, sau này Người nói: "Tôi tuy con nhà khoa bảng nhưng gốc nông dân". Tuổi thơ của Người gắn liền với những người nông dân quanh năm vất vả, lại chịu dưới hai tầng áp bức của phong kiến, thực dân nên cuộc sống cơ hàn, đói rách. Lớn lên, hiểu biết hơn, Người đã đứng về phía nông dân mà chống lại chế độ thực dân phong kiến. Năm 1908, Người đã tham gia cuộc biểu tình của nông dân 6 huyện Thừa Thiên - Huế đòi chính quyền thực dân, phong kiến giảm sưu, giảm thuế, do bị mất mùa liên tiếp trong ba năm.

Năm 1911, khi bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành luôn nghĩ đến một mục đích rất cụ thể: Làm sao xây dựng một xã hội mới, mà ở đó con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Năm 1920, khi bắt gặp Luận cương lần thứ nhất của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người đã vui mừng đến phát khóc: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta. Đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Người đã nhận ra rằng, cách mạng Việt Nam muốn thành công, phải theo đường lối cách mạng vô sản, thực hiện giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp để đi tới xã hội cộng sản. Trong cuộc cách mạng này, phải: “Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo. Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo. Mở mang công nghiệp và nông nghiệp”. Hồ Chí Minh cho rằng “Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc. Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là nông dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đông nhất chống phong kiến, chống đế quốc”.

Thấu hiểu những hy sinh, mất mát của nông dân nên ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh bãi bỏ thuế khóa bất công của thực dân Pháp, giảm tô 25% và chia ruộng đất của thực dân, phong kiến cho nông dân. Ngày 11/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thư cho các điền chủ nông gia Việt Nam: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”.

Nhận thức và đánh giá đúng phong trào của nông dân đối với cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Việt Nam, Người chỉ rõ vị trí, vai trò to lớn nông dân vừa là động lực, vừa là lực lượng đông đảo, nòng cốt, và cũng là đối tượng vận động của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nông dân là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất trung thành của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến kiến quốc thành công, muốn độc lập thống nhất thật sự ắt phải dựa vào lực lượng của nông dân. Đồng bào nông dân sẵn có lực lượng to lớn, sẵn có lòng nồng nàn yêu nước, sẵn có chí khí kiên quyết đấu tranh và hy sinh”. Khi đất nước lầm than, phong trào yêu nước của nông dân là “bà đỡ” cho phong trào công nhân phát triển và là điều kiện thúc đẩy cho Đảng ra đời. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, giai cấp nông dân là lực lượng chủ yếu cùng với các giai cấp khác đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ Đảng, bảo vệ độc lập dân tộc.

  Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành nhiều sự quan tâm đến nông dân. Người luôn luôn trăn trở, lo lắng đến cuộc sống của người nông dân, “những người đóng góp nhiều nhất cho kháng chiến”. Chỉ thống kê trong 10 năm, từ 1955-1965, Người đã có 700 chuyến đi xuống cơ sở, trong đó, có nhiều chuyến đi thăm bà con nông dân các địa phương. Người đắp guồng chống úng, cầm gầu tát nước chống hạn với dân, lội ruộng thồ máy cấy lúa... Người quan tâm sâu sát, cụ thể đến mọi công việc của nhà nông. Những cuộc đi thăm này không phải là hình thức, mà rất cần thiết với Người. Người muốn biết đồng bào, đồng chí, người dân ăn, ở, làm việc, học tập, sản xuất và chiến đấu như thế nào, để có sự quan tâm, chỉ đạo cho thiết thực, đây là cuộc sống, là tình cảm thiết tha của Người.

Tư tưởng, tình cảm, sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nông dân còn thể hiện trong nhiều bài viết về nông dân, nông nghiệp, bài nói chuyện khi đi thăm các địa phương, nhắc nhở chỉ đạo, khen thưởng, các bài báo khen chê, biểu dương thành tích, phê bình những việc làm chưa tốt, đặc biệt là những bài báo phản biện những kinh nghiệm, kiến thức về nông nghiệp mà Người học hỏi được trong các chuyến đi thăm trong nước, nước ngoài, hoặc qua sách, báo, đài...

Từ tình cảm đặc biệt dành cho nông dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy sức mạnh to lớn và vị trí cực kỳ quan trọng của người nông dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Vì vậy, trong bản “Báo cáo tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa II, một lần nữa Người đã khẳng định: “Giai cấp nông dân: Nông dân là tối đại đa số trong Nhân dân nước ta là bộ phận chủ chốt trong đội ngũ cách mạng, là giai cấp đóng góp nhiều nhất trong kháng chiến”.  Và “Giai cấp nông dân chủ chốt là bần nông và trung nông là quân đội chủ lực của kháng chiến và của cách mạng dân chủ mới… Cách mạng ta hiện nay là chống đế quốc, chống phong kiến. Nông dân là lớp người đông nhất trong Nhân dân, cho nên họ là quân chủ lực của cách mạng”.

 Tháng 01/1953, trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa II, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định những đóng góp to lớn của giai cấp nông dân đối với sự nghiệp cách mạng: "Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc. Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là nông dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đông nhất chống phong kiến, chống đế quốc". Xác định vị trí, vai trò quan trọng của nông dân trong cách mạng, Người cho rằng chỉ lo "cơm ăn, áo mặc" cho họ thì chưa đủ, mà phải nâng cao dân trí cho họ, như thế họ mới được hưởng trọn vẹn độc lập, tự do. Người xem đói và rét đều là giặc, phải diệt giặc đói, diệt giặc dốt, bởi vì "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Quan trọng hơn, việc mang lại quyền lợi ruộng đất cho nông dân luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xác định là một trong hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Không chỉ nhận thức và khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nông dân đối với cách mạng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Người còn chỉ rõ vị trí, vai trò của nông dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng ở nông thôn. Trong báo cáo trước Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư, khóa II, Người khẳng định: “Chính phủ quyết định phải triệt để giảm tô, để nông dân được hưởng lợi ích bước đầu của họ, để nông dân hăng hái đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến”. Và Người chỉ thị “Chính phủ định ra luật lệ cải cách ruộng đất, Đảng phái cán bộ về xã giúp đồng bào nông dân đấu tranh thực hiện Người cày có ruộng. Đó là bước đầu”. Từ đó, Người chỉ rõ trách nhiệm của người nông dân là “đã có ruộng, nông dân cần phải ra sức tăng gia sản xuất, để bảo đảm đời sống ấm no”. Người cũng xác định trách nhiệm của Đảng và Chính phủ: “Đảng và Chính phủ cũng sẽ giúp thêm, như thu mua lâm sản và thổ sản cho nông dân, giúp thêm cán bộ, cho vay vốn”. Nhưng vẫn lưu ý nhắc nhở “các cô, các chú chớ có ỷ lại, phải cố gắng tự lực cánh sinh là chính, việc giúp đỡ là phụ”.

Và trong Thư gửi “Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc” ngày 5-2-1953, Người đã viết: “Nông dân lao động là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân. Muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ. Muốn nông dân có lực lượng dồi dào thì phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở”. Như vậy, theo Người nhận thức đúng, đường lối, phương châm đúng là chưa đủ mà vấn đề quan trọng là để nông dân phát huy được vai trò, sức mạnh của mình.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, từng bước xây dựng cơ sở vật chất để lên chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục đặt niềm tin vào giai cấp nông dân trong cuộc cách mạng này: “Nông dân ta đã anh hùng trong cách mạng, trong kháng chiến, trong cải cách ruộng đất, thì trong cuộc cách mạng biến đổi nông nghiệp từ thấp lên cao này nông dân ta cũng phải là anh hùng”. Tại Hội nghị lần thứ năm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III, ngày 22-7-1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của Nhân dân nói chung, của nông dân nói riêng. Muốn đạt mục đích đó thì nhất định phải củng cố và phát triển hợp tác xã cho thật tốt, phải nâng cao không ngừng thu nhập của xã viên. Người cũng đã chỉ rõ quá trình, bước đi để xây dựng “nông thôn mới” thiết thực, có hiệu quả, đó là phải xây dựng cơ sở vật chất cho người nông dân để họ ổn định và có điều kiện tăng gia sản xuất, trước hết là “nhà ở”. Người cho rằng muốn xây dựng nông thôn mới thì việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng vì an cư thì mới lạc nghiệp.

Trước lúc đi xa, người để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng chí, đồng bào cả nước. Trong bản Di chúc, Người đã dành cho nông dân tình cảm gần gũi, thân thiết khi dùng cụm từ “đồng bào nông dân” để tuyên dương công lao to lớn và lòng trung thành vô hạn của họ đối với Đảng và Chính phủ trong hai cuộc kháng chiến. Căn dặn miễn thuế nông nghiệp cho nông dân, Người viết: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của, góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Khi ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.  Ước nguyện này tiếp tục thể hiện nhận thức đúng đắn của Người về vai trò quan trọng của nông dân trong sự nghiệp đấu tranh của dân tộc và vai trò của nông dân nông nghiệp đối với nền kinh tế nước nhà. Đồng thời cũng khẳng định sự quan tâm, tình cảm thân thiết của Người đối với “đồng bào nông dân”.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nông dân và là những chỉ dẫn quan trọng để xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của dân tộc, từ cuộc đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc năm 1945 đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) cũng như công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

2- Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về nông dân vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

 Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân, xuất phát từ tình hình đặc điểm xã hội Việt Nam và yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (2/1930) đã xác định phải “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản”. Để thực hiện được mục tiêu đó trước hết phải “xây dựng Chính phủ công nông binh” và “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân nghèo”, “bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo”. Như vậy, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác đinh vấn đề nông dân và ruộng đất là một trong những vấn đề cốt lõi của các mạng. Sự nghiệp giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi hoàn toàn khi giải quyết được vấn đề nông dân và ruộng đất.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét vấn đề nông dân một cách toàn diện, nghĩa là không dừng lại ở vấn đề chính trị mà gắn liền với vấn đề kinh tế, vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp. Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, khi xem xét về mặt chính trị của vấn dề nông dân là cơ sở để xây dựng khối liên minh công nông và trí thức, cơ sở để xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống Pháp. Sau khi gìành được độc lập dân tộc, liên minh công nông trí thức là nền tảng của chính quyền, là công cụ sắc bén trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội.

Thực tiễn khi đất nước được hoàn toàn thống nhất, Đảng, Nhà nước lãnh đạo toàn dân khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Nông nghiệp, nông thôn và nông dân vẫn là 3 nhân tố góp phần quan trọng đưa đất nước thoát khỏi cơn khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm đầu thập niên 80 để đổi mới đất nước. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, đưa nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất lớn, đẩy mạnh thực hiện 3 chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, trong đó chương trình lương thực - thực phẩm là quan trọng nhất nhằm đảm bảo lương thực cho xã hội và có dự trữ một phần. Từ những năm đầu thập niên 90, sản phẩm nông nghiệp nước ta dần dần chiếm lĩnh và khẳng định được vị trí trên thị trường quốc tế.

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với Nghị quyết 10 (ngày 05-4-1988) của Bộ Chính trị về chuyển đổi cơ chế quản lý nông nghiệp đã đã giao lại quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh cho người nông dân, đảm bảo lợi ích chính đáng và thúc đẩy người nông dân hăng hái tăng gia sản xuất để ích nước, lợi nhà. Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị mở cũng đã mở đầu cho sự phát triển ngoạn mục của nông nghiệp, nông thôn nước ta. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nông dân vào hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam, có tính đến xu hướng phát triển của thời đại.

Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và xây dựng nông thôn mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Đối với giai cấp nông dân… tập trung sự chỉ đạo và các nguồn lực cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nông thôn; thực hiện tốt các chính sách về ruộng đất, phát triển nông nghiệp toàn diện, tiêu thụ nông sản hàng hóa, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội; phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ vùng khó khăn; phân bố dân cư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới”.

 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta đã ra Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Những điểm căn cốt của Nghị quyết Trung ương 7 khóa X đánh dấu sự đổi mới quan trọng trong nhận thức, tư duy của Đảng về vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta tiếp tục chỉ đạo cần tăng nhanh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản, nâng cao thu nhập và đời sống nông dân; khuyến khích tập trung ruộng rất; phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy mô và điều kiện của từng vùng; đổi mới cơ bản phương thức tổ chức kinh doanh nông sản, trước hết là kinh doanh lúa gạo; bảo đảm phân phối lợi ích hợp lý trong từng công đoạn từ sản xuất đến tiêu dùng; đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại trong sản xuất; hỗ trợ phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao… Triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những nét văn hóa đặc sắc của nông thôn Việt Nam. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Tạo môi trường thuận lợi để khai thác khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động.

 Sau hơn 30 năm đổi mới, thực hiện tư tưởng cũng như mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nông dân gắn liền với phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, tại Đại hội lần thứ XII Đảng ta khẳng định, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn có chuyển biến; nông nghiệp phát triển toàn diện hơn… Xây dựng nông thôn mới có nhiều tiến bộ. Yêu cầu trong giai đoạn này là cần phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu. Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nông dân, gắn với phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới đã được Đảng và Nhà nước ta quán triệt, vận dụng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới tư tưởng, chủ trương, đường lối, chính sách đó đã trở thành “kim chỉ nam” để Đảng ta xây dựng đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong đó có vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn. 

3- Tượng đài Bác Hồ với nông dân Việt Nam - niềm vinh dự, tự hào của nông dân Việt Nam nói chung, quê hương Thái Bình nói riêng

* Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến phong trào cách mạng của các địa phương, trong đó có Thái Bình. Thái Bình đã vinh dự được 5 lần đón  Bác về thăm. Mỗi lần Bác về thăm là mở ra một chặng đường lịch sử mới, tiếp thêm sức mạnh cho phong trào cách mạng của tỉnh. Biết ơn Bác, Đảng bộ và Nhân dân Thái Bình càng ra sức học tập, lao động và làm theo lời Bác dạy.

Năm lần Bác Hồ về thăm Thái Bình, đó là:

Lần thứ nhất: Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền dân chủ nhân dân vừa mới thành lập, đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách: 28 vạn người chết đói, 500 quân Tưởng kéo vào quấy phá, Đê Đìa (Hưng Nhân) và đê Mỹ Lộc (Thư Trì) bị vỡ. 15 giờ, ngày 10 tháng  01 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hưng Yên đến thăm Thái Bình. Người làm việc với các đồng chí lãnh đạo tỉnh tại Uỷ ban Hành chính tỉnh, Người căn dặn: Phải đoàn kết toàn dân, đoàn kết các thân hào, thân sỹ, trước hết phải lo giải quyết nạn đói cho Nhân dân và nhanh chóng khắc phục đoạn đê mới bị vỡ. Sau đó, Người đến thăm đoạn đê Đìa thuộc huyện Hưng Nhân. Trước đông đảo đồng bào Thái Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh động viên và nhắc nhở: nhiệm vụ trước mắt là phải đắp lại đê và cứu đói.

Lần thứ hai: Ngày 28 tháng 4 năm 1946, biết tin Nhân dân Thái Bình chỉ trong ba tháng đã khắc phục được hậu quả hai quãng đê bị vỡ, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Thái Bình lần thứ hai. Cùng đi với Người có các ông Huỳnh Thúc Kháng, Lê Văn Hiến và một số lãnh đạo khác. Người đã gặp gỡ, nói chuyện với hơn 5 vạn cán bộ, nhân dân trong tỉnh. Người khen ngợi thành tích tăng gia sản xuất của Nhân dân và kêu gọi mọi người phải đoàn kết, ra sức diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Sau đó, Bác đến thăm quãng đê vỡ đã được hàn gắn. Người xem xét rất kỹ đoạn đê và nhắc phải đảm  bảo đầm đất kỹ hơn.

Lần thứ ba: Ngày 26 tháng 10 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Thái Bình lần thứ ba. Tại trụ sở Uỷ ban Hành chính tỉnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghe lãnh đạo tỉnh báo cáo những công việc của tỉnh đã làm được trong năm 1958. Rời trụ sở Uỷ ban Hành chính tỉnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm các chuyên gia Trung Quốc tại công trường Nhà máy xay. Sau đó, Người tới dự Đại hội sản xuất Đông - Xuân tỉnh Thái Bình. Tại sân vận động Thị xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có buổi nói chuyện với 4 vạn đại biểu nhân dân Thái Bình các cấp xã, huyện, tỉnh. Người đánh giá cao những thành tích mà quân dân Thái Bình đã đạt được và nhắc nhở một số điểm cần khắc phục như vấn đề tiết kiệm, chủ quan, tự mãn. Cuối cùng, Người kết luận “Thái Bình có nhiều điều kiện thuận lợi, người đông, đất tốt, nước có sẵn, đồng bào và cán bộ phải cố gắng làm cho tỉnh nhà thành một tỉnh gương mẫu trong miền Bắc”.

Lần thứ tư: Ngày 26 tháng  3 năm 1962 được biết, Thái Bình có phong trào lấn biển, khai hoang và toàn tỉnh đạt thành tích cao trong sản xuất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm và động viên phong trào. Sau khi gặp gỡ các đồng chí lãnh đạo tỉnh và các tầng lớp nhân dân ra đón. Bác đến thăm hợp tác xã Nam Cường, xã điển hình đi đầu trong công tác lấn biển, mở rộng diện tích đất canh tác, Người khen ngợi thành tích ngăn biển, khai phá đất hoang và tặng Huy hiệu cho bốn cán bộ, xã viên có thành tích xuất sắc trong xã.

Người đến thăm Hội nghị phát động phong trào sản xuất trong nông nghiệp toàn tỉnh, gặp gỡ các đại biểu đang họp tại xã Đông Lâm (Tiền Hải). Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi Nhân dân Thái Bình có nhiều cố gắng trong tăng vụ, vỡ hoang, làm thuỷ lợi, phân bón. Thay mặt Trung ương, Người giao trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên phải xây dựng Thái Bình thành một trong những tỉnh khá nhất về mọi mặt. Người đã tặng Huy hiệu cho 14 chiến sỹ thi đua về lao động sản xuất trong toàn tỉnh. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm một số gia đình xã viên của xã Đông Lâm (huyện Tiền Hải), thăm một đơn vị bộ đội đóng quân tại địa phương.

Lần thứ năm: Chiều ngày 31 tháng 12 năm 1966, được tin Thái Bình là tỉnh đầu tiên trong cả nước đạt năng suất 5 tấn thóc/ha, trong hoàn cảnh thời chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Thái Bình lần thứ năm. Cùng đi với Bác có các đồng chí: Tố Hữu và Hoàng Anh. Người làm việc với các đồng chí lãnh đạo tỉnh tại nơi sơ tán (thôn Đại Đồng, xã Tân Hoà, huyện Thư Trì), nghỉ một đêm tại đây. Sáng 01 tháng 01 năm 1967, trong một buổi nói chuyện với trên 100 cán bộ đại biểu đại diện cho bốn vạn đảng viên và trên một triệu đồng bào cùng một số xã viên của hợp tác xã Tân Phong và Hiệp Hoà huyện Thư Trì (nay là huyện Vũ Thư); Người nói nhiều về sản xuất nông nghiệp; cuối cùng Người kết luận: “Thái Bình có tiến bộ nhiều, Bác mong các đồng chí và đồng bào đều cố gắng hơn nữa để làm cho Thái Bình trở thành một tỉnh gương mẫu về mọi mặt”.

Ngoài những vinh dự trên, Nhân dân và Đảng bộ Thái Bình còn nhận được muôn vàn tình thương yêu và sự chăm sóc của Bác. Trong nhiều năm theo dõi Báo “Thái Bình tiến lên”, Bác đã thưởng Huy hiệu cho 67 người tốt việc tốt; khen 41 giáo viên dạy giỏi, 197 học sinh giỏi. Bác hai lần gửi Thư khen Hợp tác xã Tân Phong, Đông Bình cách chăn nuôi trâu, bò giỏi; khen ngợi Hợp tác xã Hiệp Hoà trồng cây giỏi, khen đội Thuỷ lợi Quang Trung làm thuỷ lợi giỏi. Bác gửi Tỉnh uỷ ba tấm ảnh có chữ ký của Người làm phần thưởng. Đầu năm 1969, cả Ban Thường vụ Tỉnh uỷ được vào thăm và chụp ảnh với Bác.

Thái Bình còn là quê hương, cái nôi của cách mạng: Thời kỳ chống Thực dân phong kiến, nông dân Thái Bình dưới sự lãnh đạo của Đảng đã vùng lên đấu tranh mạnh mẽ, tiêu biểu là cuộc biểu tình của nông dân Tiên Hưng - Duyên Hà ngày 01 tháng 5 năm 1930. Đây là cuộc đấu tranh đầu tiên của nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, mở đầu cho cao trào cách mạng 1930 -1931; là một trong sáu cuộc biểu tình lớn nhất của Nhân dân cả nước lúc bấy giờ hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ chống lại sự tàn bạo của thực dân Pháp. Phong trào cách mạng Thái Bình đã góp phần quan trọng vào cao trào cách mạng chung trên quy mô cả nước mà đỉnh cao là phong trào Xô viết - Nghệ Tĩnh, tháng 9 năm 1930. Trong giai đoạn chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thái Bình  đã làm tốt hai nhiệm vụ “sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi”; hàng vạn con em Thái Bình nô nức lên đường tòng quân đánh giặc, nông dân Thái Bình thi đua sản xuất, tạo ra “cánh đồng 5 tấn” đầu tiên của Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Thái Bình luôn đi đầu trong phong trào “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, góp phần đánh thắng đế quốc Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất nước nhà.

Với tình cảm của Bác dành cho giai cấp nông dân Việt Nam nói chung, Đảng bộ, Nhân dân Thái Bình nói riêng, đặc biệt là những thành tựu to lớn của Đảng bộ, quân và dân Thái Bình đã đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp, gắn với sự phát triển của giai cấp nông dân, vì vậy, việc xây dựng Tượng đài Bác Hồ với nông dân tại Thái Bình là việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đáp ứng được lòng nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Thái Bình, thể hiện được tình cảm của Bác Hồ dành cho người dân Thái Bình, cũng như tình cảm, lòng kính yêu và sự tri ân của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thái Bình đối với Bác Hồ kính yêu.

Thể theo nguyện vọng của cán bộ và nhân dân, được sự nhất trí của Trung ương, công trình Đền thờ Bác Hồ được khởi công xây dựng ngày 25/8/2014 và Tượng đài Bác Hồ với nông dân Việt Nam được triển khai xây dựng từ tháng 10/2018 đến nay đã hoàn thành.

* Công trình Đền thờ Bác Hồ và Tượng đài Bác Hồ với nông dân Việt Nam nằm trong quần thể kiến trúc Quảng trường Thái Bình thuộc phường Hoàng Diệu, Thành phố Thái Bình. Đền thờ Bác Hồ được thiết kế theo ý tưởng đình làng với mái cong truyền thống của Đồng bằng sông Hồng, đồng thời mang hơi thở của thời đại mới. Trên diện tích 3.500 m2, Đền tọa lạc trên đỉnh đồi cao, uy nghiêm và tạo được nhiều lớp kiến trúc, trong khuôn viên Quảng trường Thái Bình bên sông Trà Lý. Nghi môn đền là 4 trụ, 2 trụ lớn ở giữa và 2 trụ nhỏ hai bên theo lối tứ trụ truyền thống với các chi tiết trang trí vân mây cách điệu. Tả vu, hữu vu được đặt đăng đối 2 bên sân, trên mặt bằng chữ Nhất. Tiền tế có cấu trúc 3 gian 4 cột, vì kèo chồng rường, bảy mái liên kết với hàng cột hiên gian đại bái. Đại bái có cấu trúc 5 gian, kiến trúc vì kèo kiểu chồng rường - giá chiêng - bảy mái. Các góc đao của tiền tế, đại bái dâng đao mái mềm mại. Hậu cung là 3 gian vuông góc với 5 gian đại bái tạo thành kiến trúc chữ Đinh. Tại hậu cung vào gian chính giữa được nâng thêm một tầng mái (dạng cổ lầu) tạo không gian thoáng mát cho ngôi đền. Từ xa Đền thờ Bác như một bông hoa sen đang nở. Các cánh sen là các đao mái của công trình vươn dần lên cao. Bậc cấp, lan can, sân bằng đá xanh với hoa văn trang trí mềm mại. Lối lên Đền thờ với 3 đoạn cách điệu dáng rồng, thể hiện sự uy nghiêm. Hương án, bàn thờ, hoành phi, câu đối, đại tự, cửa võng... được làm bằng gỗ vàng tâm, sơn son thếp bạc phủ hoàng kim theo truyền thống Việt Nam. Đền thờ Bác Hồ  mang phong cách Á Đông, gần gũi, trang nghiêm, đậm bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, là công trình tâm linh để Nhân dân, nhất là bà con nông dân cả nước, du khách gần xa có dịp bày tỏ lòng biết ơn, niềm thành kính, dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - vị cha già dân tộc

Tượng đài Bác Hồ với nông dân Việt Nam nằm trong quần thể kiến trúc Quảng trường Thái Bình. Chiêm ngưỡng tượng Bác Hồ với nông dân Việt Nam, chúng ta như được gặp Bác trong bộ quần áo giản dị, nụ cười đôn hậu - hình ảnh người cha 5 lần về với Thái Bình, về thăm những người nông dân, thăm những cánh đồng. Xung quanh Bác là các cụ già, phụ nữ, thanh niên, trẻ em... đang hướng về Bác, thể hiện sự kính yêu vô bờ bến. Bằng tất cả các đường nét hài hòa và tinh tế, tượng đài đã thể hiện đậm nét và sinh động những tình cảm mà lúc sinh thời, Bác dành cho giai cấp nông dân và mỗi người nông dân đối với Bác

Xung quanh tượng đài là các mảng phù điêu thể hiện phong cảnh làng quê Việt Nam, đời sống sinh hoạt, lao động của nông dân Việt Nam, đặc biệt là hình ảnh của những người nông dân Việt Nam trong công cuộc xây dựng nông thôn mới. Cùng với đó là hình ảnh làng nghề, hoạt động văn hóa, hình ảnh chùa Keo, lễ hội đền Trần, múa rối nước... những họa tiết thể hiện sắc thái đặc trưng văn hóa Thái Bình. Làng quê văn minh, đổi mới, đời sống người nông dân sung túc, ấm no luôn là ước nguyện của Người.

Công trình có bố cục đẹp, độc đáo, tỷ lệ tương xứng đồng đều, mang tính mỹ thuật cao. Tượng đài Bác Hồ với nông dân Việt Nam không chỉ là công trình văn hóa ý nghĩa, là điểm đến hấp dẫn của Nhân dân cả nước, du khách nước ngoài để tri ân công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây còn là công trình có giá trị lịch sử, lưu giữ trường tồn những tình cảm Bác Hồ dành cho nông dân Thái Bình, cũng như nông dân cả nước.

Công trình Đền thờ Bác Hồ và Tượng đài Bác Hồ với nông dân Việt Nam là biểu tượng cao đẹp hun đúc lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc và phát huy truyền thống yêu nước của các thế hệ hôm nay và mai sau; thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn”, lòng tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thái Bình. 

II. THÁI BÌNH - 130 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

(theo Đề cương tuyên truyền của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy biên soạn và phát thanh kèm theo Hướng dẫn số 62-CV/BTGTU, ngày 10/01/2020 về công tác tuyên truyền năm 2020).

III. KẾT QUẢ CÁC PHONG TRÀO THI ĐUA VÀ CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG 5 NĂM (2015 - 2020); PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ 5 NĂM TỚI (2020 - 2025)

1. Những kết quả nổi bật của các phong trào thi đua và công tác thi đua khen thưởng trong 5 năm (2015 - 2020)

Thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, trên địa bàn tỉnh Thái Bình, công tác thi đua khen thưởng đã có bước chuyển biến tích cực. Hội đồng thi đua, khen thưởng các cấp được kiện toàn, củng cố và hoạt động có hiệu quả. Các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực được phát động, triển khai sâu rộng trong Đảng và toàn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ngày càng vững mạnh.

1.1- Kết quả triển khai tổ chức phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động

* Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”

Thực hiện Hướng dẫn số 260/HD-BTĐKT ngày 27/02/2015 của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương về việc tổng kết phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2011-2015; Hướng dẫn số 1741/HD-BTĐKT ngày 31/7/2018 của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương về sơ kết phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020; UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 49/KH-UBND ngày 27/8/2015 về tổng kết phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2011 - 2015; Kế hoạch số 76/KH-UBND ngày 05/10/2018 về sơ kết phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020 và tổ chức Hội nghị sơ kết, tổng kết phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” trên địa bàn tỉnh. Thông qua hội nghị đã tôn vinh, biểu dương các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc, các điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua để tiếp tục nêu gương, học tập.

Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện, được người dân đồng tình ủng hộ. Đến nay toàn tỉnh đã có 100% xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, 01 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 05 xã đã được thẩm định đạt 11/11 tiêu chí xã nông thôn mới nâng cao năm 2019 và đang hoàn thiện hồ sơ trình công nhận; 07/07 huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn quốc gia về nông thôn mới, thành phố Thái Bình hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2019.

* Phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”

Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững và hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, các cấp các ngành trong tỉnh đã phối hợp với các cơ quan, tổ chức, địa phương triển khai thực hiện và đã đạt những kết quả tích cực. Người nghèo từng bước được hỗ trợ, cải thiện về đời sống, tiếp cận tốt hơn các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước, giúp họ tự nỗ lực vươn lên, thoát nghèo bền vững. Thu nhập đầu người khu vực nông thôn đạt 43 triệu/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm.

Thực hiện Đề án cho vay ưu đãi và hỗ trợ làm nhà ở cho hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 - 2020. Đến nay đã có trên 100 hộ nghèo được hỗ trợ kinh phí xây nhà ở, với tổng kinh phí trên 500 triệu. Huy động nguồn xã hội hoá từ Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng hỗ trợ kinh phí xây dựng mới 10 nhà, trị giá 500 triệu đồng. Các Tổ chức Hội, Đoàn Thanh niên CSHCM tỉnh, Liên đoàn lao động, Hội CTĐ đã xây dựng Kế hoạch, chỉ đạo các cấp Hội, Đoàn tuyên truyền, vận động, ủng hộ Quỹ “Vì người nghèo” các cấp hàng tỷ đồng, xây dựng 286 mô hình giảm nghèo bền vững. Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ , Ban vận động quỹ “Vì người nghèo” các cấp đã phối hợp với các cơ quan truyền thông từ tỉnh đến cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về mục đích, nội dung, ý nghĩa nhân đạo của công tác an sinh xã hội, chăm lo cho người nghèo. Các Ban công tác Mặt trận khu dân cư tuyên truyền, vận động gia đình dòng họ, cộng đồng dân cư giúp đỡ hộ nghèo cả vật chất và tinh thần, tạo thành phong trào thi đua sôi nổi, thu hút được sự tham gia hưởng ứng của nhiều đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, doanh nhân, nhà hảo tâm và các tầng lớp nhân dân.

Cùng với vận động xây dựng quỹ “Vì người nghèo”, công tác vận động bảo đảm an sinh xã hội được triển khai đầy đủ các chế độ, chính sách đến từng hộ nghèo, cận nghèo như: Hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, đào tạo nghề, tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa, giải quyết các chế độ chính sách... giúp người nghèo vươn lên ổn định cuộc sống, thoát nghèo bền vững.

* Phong trào “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”

Hưởng ứng phong trào thi đua "Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển" do Thủ tướng Chính phủ phát động, ngày 15/9/2017 UBND tỉnh ban hành  Kế hoạch số 173/KH-UBND về việc tổ chức thực hiện phong trào thi đua trên địa bàn tỉnh, đã tổ chức phát động trong toàn thể cán bộ công chức, viên chức, người lao động tích cực tham gia phong trào bằng những việc làm thiết thực cụ thể  với nội dung, tiêu chí cụ thể như: Tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là việc giải quyết các thủ tục hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch, đơn giản hóa, giảm chi phí cho người dân, nhà đầu tư và doanh nghiệp; đẩy mạnh hướng dẫn và thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 thuộc lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp; nêu cao trách nhiệm của các công chức, viên chức và người lao động trong việc phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Thực hiện Chương trình hành động số 03/CTHĐ-UBND ngày 30/6/2016 của UBND tỉnh;  thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính Phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo, sản xuất kinh doanh hiệu quả, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người lao động trong tỉnh. Tuyên truyền sâu rộng Chỉ thị số 18/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2019 về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2019 và định hướng đến năm 2021.

* Phong trào thi đua “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”

 Phong trào thi đua “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở” được các cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương quan tâm triển khai thực hiện nghiêm túc với nhiều nội dung, hình thức phong phú, thiết thực, có tiêu chí thi đua cụ thể, rõ ràng phù hợp với thực tiễn của từng đơn vị. Đến nay, phong trào đã thực sự lan tỏa sâu rộng tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đồng thời góp phần nâng cao ý thức, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, tạo môi trường tạo môi trường làm việc văn minh, chuyên nghiệp, trách nhiệm, minh bạch, hiệu quả, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, từng bước xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, xã hội.

1.2- Kết quả thực hiện các phong trào thi đua do bộ, ngành tỉnh phát động

Giai đoạn 2015 - 2020, các ngành, địa phương, đơn vị đã bám sát nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, chọn những việc khó, việc lớn để phát động phong trào thi đua tạo động lực, khí thế mạnh mẽ, lôi cuốn các tầng lớp nhân dân tham gia và đạt được những kết quả tích cực, toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra. Cụ thể: 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế đều đạt ở mức hai con số; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Sản xuất nông nghiệp đã ứng dụng công nghệ mới, đưa cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất, nâng cao năng suất, giá trị sản phẩm.

* Trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo: Các phong trào thi đua: “Dạy tốt, học tốt”;  “Xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia”, “Hai không”, “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”... được triển khai sâu rộng gắn với các cuộc vận động: “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”, “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nhà giáo ở các cấp học, bậc học, nhiều tấm gương điển hình trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã xuất hiện như: Trường Mầm non Thái Hòa, huyện Thái Thụy; Trường Mầm non tư thục Hoa Phượng, Thành phố Thái Bình; Trường  Tiểu học Tây Phong, huyện Tiền Hải; Trường Tiểu  học và Trung học cơ sở Bùi Hữu Diên, huyện Hưng Hà; Trường Trung học phổ thông Đông Thụy Anh, huyện Thái Thụy; Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên, huyện Đông Hưng; cô Mai Thị Bích Nguyện, Hiệu trưởng Trường Tiểu học và Trung học cơ sở An Vũ, huyện Quỳnh Phụ; cô Phạm Hồng Lê, Giáo viên Trưởng Tiểu học và Trung học cơ sở Kỳ Đồng, huyện Hưng Hà.

* Trong lĩnh vực Y tế: Phong trào thi đua thực hiện lời dạy của Bác Hồ "Thầy thuốc như mẹ hiền" và thực hiện 12 điều y đức đã góp phần nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh, nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ thầy thuốc trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Ở khắp các địa phương, các tuyến y tế đều xuất hiện những gương điển hình tiên tiến, tiêu biểu như: Bệnh viện Tâm thần, Trung tâm tim mạch, Bệnh viện Đa khoa tỉnh; Bệnh viện Đa khoa huyện Thái Thụy; bà Lê Thị May, Điều dưỡng Trưởng Khoa Điều trị - chăm sóc bệnh nhân phong tàn tật và dinh dưỡng Bệnh viện Da liễu; bà Vũ Hồng Dịu, Phó Trưởng khoa Điều trị nghiện chất, Bệnh viện Tâm thần; ông Nguyễn Hữu Quyền, Trưởng khoa Gây mê hồi sức, Bệnh viện Nhi Thái Bình; ông Đỗ Tất Thành, Phó Giám đốc Trung tâm tim mạch, Bệnh viện Đa khoa tỉnh; bà Lê Thị Hồng Nhung, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật; ông Bùi Trọng Nghĩa, Trưởng phòng Y tế huyện Thái Thụy và nhiều thầy thuốc tận tụy hết lòng vì bệnh nhân.

  * Trong lĩnh vực văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao:

   5 năm qua, các phong trào thi đua trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao được quan tâm, trong đó phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, nội dung được lồng ghép với việc thực hiện “Nếp sống văn hoá - văn minh đô thị”, "Đô thị văn minh, công dân thân thiện", “Xanh - sạch - đẹp” được đẩy mạnh; đặc biệt phong trào: Xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hóa, cơ quan văn hóa; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; khôi phục nét đẹp văn hoá truyền thống,... ngày càng phát triển mạnh mẽ các tập thể, cá nhân như: Xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ; xã Nam Cao, huyện Kiến Xương; Thôn Cổ Trai, xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà; ông Nguyễn Bá Hiện, Trưởng phòng Văn hóa và Thông tin huyện Thái Thụy được đánh giá là những gương điển hình tiêu biểu.

Trong hoạt động nghệ thuật và thể dục, thể thao các năm qua tỉnh Thái Bình cũng đã xuất hiện nhiều gương mặt trẻ giành nhiều Huy chương trong các kỳ Đại hội hay Hội diễn trong nước và quốc tế.

* Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng:

Lực lượng vũ trang thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức phát động nâng cao hiệu quả thực hiện các phong trào thi đua. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện nền nếp các phong trào thi đua "Thi đua quyết thắng”, “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Tuổi trẻ Quân đội học tập và làm theo Bác”, “Thanh niên Quân đội thi đua rèn đức, luyện tài xung kích sáng tạo xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, “Nền nếp, chính quy, chấp hành nghiêm kỷ luật, sẵn sàng chiến đấu cao”, từ phòng trào thi đua đã xuất hiện nhiều gương điển hình tiêu biểu như: Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Phòng Chính trị, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Phòng Chính trị, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Ban Chỉ huy Quân sự Thành phố Thái Bình; Trung tá Trần Sỹ Hùng, Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Diêm Điền, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Trung tá Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ nhiệm Hậu cần - Kỹ thuật, Ban Chỉ huy Quân sự huyện Hưng Hà; Thiếu tá Phạm Hồng Quang, Trợ lý tham mưu, Ban Chỉ huy Quân sự huyện Vũ Thư.

Công an tỉnh tiếp tục thực hiện tốt phong trào thi đua: "Vì an ninh tổ quốc", “Đoàn kết - Kỷ cương - Nhân văn - Sáng tạo; xây dựng lực lượng công an Thái Bình trong sạch, vững mạnh”; “Trách nhiệm cao, nghiệp vụ sâu, điều hành giỏi" và  “Đoàn kết, kỷ cương, năng động, phát triển”; “3 xây, 3 chống, 3 không”. Nhiều mô hình đang phát huy hiệu quả, như: Xóm đạo bình yên, gia đình văn hóa, “Doanh nhân với an ninh trật tự”; “Cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ người được tha tù tái hòa nhập cộng đồng”; nhiều cách làm hay, nhiều mô hình điển hình trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, góp phần xây dựng thế trận lòng dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh xuất hiện, nổi bật như: Phòng An ninh điều tra, Công an tỉnh; Công an huyện Đông Hưng; Đại tá Phạm Đình Tâm, Phó Giám đốc Công an tỉnh; Trung tá Nguyễn Ngọc Thạch, Phó Trưởng phòng Tham mưu; Đại úy Lê Công Thạch, Phó Trưởng phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh.

* Trong xây dựng hệ thống chính trị, phong trào thi đua: "Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh", "Xây dựng cơ quan văn hóa, kiểu mẫu", "Dân vận khéo" được triển khai sâu rộng với nội dung, hình thức phong phú, mục tiêu, chỉ tiêu thi đua cụ thể, thiết thực, bám sát nhiệm vụ chính trị trọng tâm của đơn vị tạo sự đồng thuận cao và thu hút được đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tích cực tham gia. Nhiều gương điển hình là tập thể, cá nhân tiêu biểu xuất hiện trong phong trào thi đua như: Ủy ban nhân dân xã Hợp Tiến, huyện Đông Hưng; Ủy ban nhân dân xã Thụy Chính, huyện Thái Thụy; Ủy ban nhân dân xã Tây Giang, huyện Tiền Hải; Đảng bộ xã Vũ Lạc, Thành phố Thái Bình; Đảng bộ xã An Quý, huyện Quỳnh Phụ; Ông Nguyễn Văn Dương, Bí thư Chi bộ thôn Giáo Thiện, xã Quỳnh Minh, huyện Quỳnh Phụ; Ông Hoàng Đăng Cát, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ xã Thái Giang, huyện Thái Thụy.

Hội Liên hiệp Phụ nữ với phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”. Tổ chức Hội các cấp đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, khuyến khích hội viên hăng hái tham gia lao động, sản xuất tiêu biểu trong công tác hội như: Hội Liên hiệp phụ nữ Thành phố Thái Bình, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Đông Động, huyện Đông Hưng. Đến nay, toàn tỉnh đã có hàng nghìn phụ nữ đạt danh hiệu ”Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, hàng trăm hội viên thoát nghèo vượt khó phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống, như: Bà Phạm Thị Đượm, Hội viên Phụ nữ thôn Sơn Thọ 1, xã Thái Thượng, huyện Thái Thụy; bà Tưởng Thị Liễu, Hội viên phụ nữ thôn Mễ Sơn 1, xã Tân Phong, huyện Vũ Thư.

Hội Nông dân tỉnh tích cực chỉ đạo cán bộ, hội viên đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” đoàn kết giúp nhau làm giàu, giảm nghèo bền vững. Từ đó, đã xuất hiện nhiều mô hình, ý tưởng mới, cách làm hay, như: Ý tưởng nghiên cứu chế tạo máy cấy lúa của ông Trần Đại Nghĩa, xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải không chỉ mang lại nguồn thu nhập ổn định cho gia đình mà còn góp phần giúp người nông dân giảm thời gian, công sức lao động thực tế; hay việc xây dựng mô hình trang trại tổng hợp của ông Bùi Thọ Thính, xã Đông Sơn, huyện Đông Hưng; ông Trần Xuân Lịch, xã Quốc Tuấn, huyện Kiến Xương; bà Trần Thị Nhường, xã Duyên Hải, huyện Hưng Hà; ông  Lê Sỹ Thuật, thôn 2 Hoành Sơn, xã Thụy Văn, huyện Thái Thụy, ông Đỗ Quang Bốn, Giám đốc doanh nghiệp Phương Nam, huyện Thái Thụy đã mở ra hướng đi mới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trong giai đoạn hiện nay.

Các phong trào của Hội cựu chiến binh đã góp phần phát huy phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ; động viên, khích lệ cựu chiến binh giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, tích cực tham gia đảm bảo an ninh trật tự, công tác từ thiện xã hội. Điển hình là: Hội Cựu chiến binh xã Vũ Quý, huyện Kiến Xương; anh hùng Lao động, thương binh loại 1/4 Đào Viết Thoàn, xã An Quý, huyện Quỳnh Phụ; ông Nguyễn Quang Tiệp, Cựu chiến binh xã Quỳnh Giao, huyện Quỳnh Phụ; ông Phạm Ngọc Sơn, Cựu chiến binh xã Phú Châu, huyện Đông Hưng; ông Nguyễn Đình Hòe, Cựu chiến binh thôn Nhân Phú, xã Hùng Dũng, huyện Hưng Hà; ông Vũ Văn Tinh, Cựu chiến binh phường Hoàng Diệu, Thành phố Thái Bình.

Phong trào thi đua “Tuổi trẻ Thái Bình xung kích sáng tạo vì ngày mai lập nghiệp” của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã phát huy tinh thần xung kích, khát vọng, ý chí và sức mạnh của tuổi trẻ, không ngại hy sinh, gian khổ, hăng hái lao động, sản xuất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cá nhân như: bà Phan Thị Thủy, Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh huyện Thái Thụy; ông Trương Văn Lượng, Chủ cơ sở sản xuất lồng công nghiệp thôn Kiến Xá, xã Nguyên Xá, huyện Vũ Thư; em Nguyễn Tuấn Minh, Lớp K46I, Trường Đại học Y Dược Thái Bình; ông Trần Mạnh Hùng, Bí thư đoàn, Phó đội Trưởng đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an huyện Đông Hưng; ông Nguyễn Cao Sang, Thanh niên tôn giáo, Bí thư Chi Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thôn Bạch Long, xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải, họ là những gương điển hình tiêu biểu cho tinh thần, sức mạnh của tuổi trẻ Thái Bình trong những năm qua.

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc làm tốt công tác tuyên truyền, tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Những năm qua, phong trào “Xây dựng Chùa cảnh 4 gương mẫu”, “Xứ họ đạo 4 gương mẫu” do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc phát động đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, các nhà chùa như: Chùa Keo, xã Duy Nhất, huyện Vũ thư; Chùa Hoằng Văn, xã Đông Cường, huyện Đông hưng; Giáo xứ như: Giáo xứ Lai Ổn, xã An Quý, huyện Quỳnh Phụ, Giáo xứ Bạch Long, xã Đông Hoàng, huyện Tiền Hải là những điển hình tiêu biểu tích cực tham gia tuyên truyền vận động các tín đồ Phật tử, các giáo dân đoàn kết giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

Phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, “Sáng kiến cải tiến kỹ thuật” mang lại hiệu ứng tích cực. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật mới, ý tưởng hay được đưa vào ứng dụng nhằm làm tăng năng xuất lao động, giảm chi phí, giảm giá thành sản phẩm, tiêu biểu như: Sáng kiến cải tiến kỹ thuật, lắp đặt mở rộng dây truyền sản xuất của ông Quách Văn Kiên, Trưởng phòng Kỹ thuật Cơ điện, Công ty Cổ phần Tập đoàn Hương Sen; sáng kiến “Sắp xếp lại mô hình cho một số công đoạn may nhằm giảm số lượng công nhân cắt chỉ, giảm chỉ bẩn trên sản phẩm” của ông Nguyễn Khắc Công, Công nhân Công ty TNHH May mặc V.J.one; sáng kiến “Hợp lý hóa dây chuyền may mặc, cải tiến thao tác may” của bà Hoàng Thị Hương, Công nhân Công ty TNHH Ivory Việt Nam, hay sáng kiến chế tạo “Máy nâng hạ cánh van bằng động cơ điện một pha áp dụng cho các máy đóng mở từ V2-:V7” của ông Trần Trọng Kim, Tổ trưởng Tổ cơ khí, Xí nghiệp khai thác công trình thủy lợi huyện Tiền Hải, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Nam Thái Bình. 

Nhiều doanh nghiệp, doanh nhân đã chủ động đổi mới thiết bị, công nghệ, tập trung nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân điển hình là doanh nghiệp tư nhân Điện cơ Thiên Thuận, xã Thụy Thanh, huyện Thái Thụy, hay doanh nhân Đỗ Chí Lệ, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Thương mại Thành Đạt; Trần Thị Trà, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập  đoàn ThaiBinh Seed. Dám nghĩ, dám làm mạnh dạn trong mở rộng quy mô, ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, cạnh tranh sản phẩm nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã khẳng định được vị thế trên thị trường trong và ngoài nước được công nhận bằng những giải thưởng danh giá Sao vàng đất Việt, Cúp Thánh Gióng, Cúp Bông hồng Vàng, như: Công ty Cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng Long, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Hưng Cúc, Công ty Cổ phần sản xuất hàng thể thao Chi  nhánh Thái Bình, Công ty Cổ phần thương mại tổng hợp Toan Vân, Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thành. Bên cạnh tạo công ăn việc làm ổn định cho người lao động, cộng đồng doanh nghiệp đã góp phần không nhỏ vào nguồn thu ngân sách của tỉnh trong đó tiêu biểu Công ty cổ phần Xăng dầu Dầu khí Thái Bình; Công ty hóa chất mỏ Thái Bình - MICCO; VIETTEL Thái Bình - Chi nhánh Tập đoàn công nghiệp - Viễn thông Quân đội; Công ty Trách nhiệm hữu hạn vận tải thủy bộ Hải Hà.

 

 

1.3- Kết quả đổi mới công tác khen thưởng

Việc xét khen thưởng được thực hiện đảm bảo đúng theo quy định Luật Thi đua, khen thưởng, Nghị định, Thông tư, Hướng dẫn đảm bảo chính xác, khách quan, minh bạch, đã quan tâm, chú trọng đến đối tượng là tập thể nhỏ và người lao động trực tiếp.

 Công tác khen thưởng ngày càng đi vào thực chất đảm bảo đúng đối tượng, tiêu chuẩn có tác dụng giáo dục, nêu gương, chất lượng hồ sơ đề nghị khen thưởng ngày càng được nâng lên; thủ tục, quy trình xét khen thưởng ở các cấp thực hiện đúng nguyên tắc, nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, nhất là đối với các trường hợp đề nghị khen thưởng đột xuất.

5 năm tỉnh Thái Bình đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều hình thức khen thưởng khác nhau đối với các tập thể, cá nhân, cụ thể như sau:

* Khen thưởng cấp Nhà nước:

Toàn tỉnh có 02 nhà giáo được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú; 04 nghệ sĩ được tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân; 04 nghệ sĩ được tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú; 01 thầy thuốc được tặng danh hiệu thầy thuốc Nhân dân; 23 thầy thuốc được tặng danh hiệu Thầy thuốc ưu tú; 36 tập thể và 124 cá nhân được tặng thưởng Huân chương Lao động các loại, các hạng; 64 tập thể, 264 cá nhân và 11 hộ gia đình được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 54 tập thể được tặng Cờ thi đua của Chính phủ; 01 cá nhân được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc, 377 bà mẹ được phong tặng, truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng; 32 cá nhân được tặng thưởng Huân, Huy chương kháng chiến và 01 cá nhân được tặng Kỷ niệm chương địch bắt tù đày.

* Khen thưởng cấp tỉnh:

UBND tỉnh đã khen thưởng cho 7.606 tập thể, cá nhân; trong đó: tặng Cờ thi đua cho 466 tập thể; tặng danh hiệu tập thể Lao động xuất sắc cho 1169 tập thể; Bằng khen cho 2.199 tập thể và 2.739 cá nhân; Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh cho 882 cá nhân; Bằng ghi công cho 06 tổ chức và 145 cá nhân.

2- Phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn tới (2020 - 2025)

- Tiếp tục tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua, khen thưởng đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh nhằm nâng cao nhận thức và khẳng định vị trí, vai trò của công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay.

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, gắn trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức phong trào thi đua yêu nước với thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thi đua, khen thưởng về nội dung, hình thức và biện pháp tổ chức thực hiện, tập trung đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước; tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; quan tâm, chỉ đạo sâu sát các phong trào thi đua chuyên đề, thường xuyên và đột xuất, đặc biệt tập trung chỉ đạo những lĩnh vực khó, trọng tâm, trọng điểm, những mặt còn hạn chế, yếu kém, tạo bước đột phá để phong trào thi đua phát triển đồng đều, sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh.

- Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, công tác khen thưởng, thực hiện đồng bộ cả ba khâu: Phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình tiên tiến. Khen thưởng đảm bảo đúng người, đúng việc, dân chủ, công khai và đúng quy định. Tổ chức tốt việc biểu dương, tôn vinh những tập thể, cá nhân là điển hình tiên tiến xuất sắc, tiêu biểu.

- Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc tổ chức, phát động tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị hàng năm và giai đoạn 2020-2025.

- Đẩy mạnh công tác tập huấn, nâng cao trình độ nhận thức và nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng. Nâng cao chất lượng và đổi mới nội dung hoạt động của Hội đồng Thi đua - Khen thưởng các cấp, phát huy hiệu quả vai trò trong công tác kiểm tra, giám sát, tham mưu, tư vấn cho cấp uỷ, chính quyền trong tổ chức, chỉ đạo phong trào thi đua và công tác khen thưởng.

- Tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương, của các bộ, ngành, của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, trong thời gian tới tỉnh Thái Bình tiếp tục thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng để nhanh chóng xây dựng Thái Bình sớm thành tỉnh gương mẫu mọi mặt.


Ban Tuyên giáo TU
Các tin khác cùng chủ đề
 
Bản Quyền trang thông tin Thuộc về Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Thái Bình
Địa chỉ: Số 08, phố Quang Trung, phường Trần Hưng Đạo, Tp Thái Bình, tỉnh Thái Bình
Điện Thoại:(0227).3831680 - (0360).831660 Fax:(0227).3645264 - Email: banbientap.mttqtb@gmail.com
Giấy phép hoạt động số: 75/GP-TTĐT, ngày 30/11/2016 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thái Bình